Nguồn Gốc Của Cây Gừng

Thân rễ (thường gọi là củ)- Rhizoma Zingiberis, có tên là Can khương. Thân rễ, thu hái vào màu đông, dùng tươi là sinh khương, phơi hoặc sấy khô là can khương. Còn dùng tiêu khương (gừng khô thái lát dày, sao sém vàng, đang nóng, vẩy vào ít nước, đậy kín. để nguội); bào khương (gừng khô đã bào chế); thán khương (gừng khô thái lát dày, sao cháy đen tồn tính).

Đang xem: Nguồn gốc của cây gừng

*

Sinh khương

*
*
Can khương Tiêu khương
*
*
Thán khương Bào khương

Hình 1: Một số vị thuốc từ Gừng
Tinh dầu: Có thể cất tinh dầu từ gừng với hiệu suất 1-2,7% hoặc điều chế nhựa dầu gừng từ bột gừng khô với các dung môi hữu cơ, hiệu suất 4,2- 6,5%.

MÔ TẢ CÂ

*

Cây thảo, sống lâu năm, cao 40-80cm. Thân rễ nạc, mọc bò ngang, phân nhiều nhánh. Lá mọc so le thành hai dãy, hình mác thuôn, thắt lại ở gốc, đầu nhọn, dài 15-20cm, rộng 2cm, không cuống, có bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm bóng, mặt dưới nhạt. Cụm hoa dài 5cm, mọc từ gốc trên một cán dài khoảng 20cm do nhiều vảy lợp hình thành, những vảy phía dưới ngắn, càng lên trên càng dài và rộng hơn, lá bắc hình trái xoan, màu lục nhạt, mép viền vàng, đài có 3 răng ngắn, tràng có ống dài gấp đôi đài, 3 thùy bằng nhau, hẹp và nhọn, 1 nhị, nhị lép không có hoặc tạo thành thùy bên của cánh môi, cánh môi màu vàng, có viền tía ở mép, dài 2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùy tròn, các thùy bên ngắn và hẹp hơn, bầu nhẵn.

*

Qủa nang (rất ít gặp)Toàn cây, nhất là thân rễ, có mùi thơm, vị cay nóng.Mùa hoa quả: tháng 5-8

Một số giống gừng khác:

Cây Gừng Dại – Zingiber Parpureum

*
*

Cây Gừng Gió – Zingiber Zerumbet

*
*

Cây Gừng Lúa – Zingiber Gramineum

*
*

PHÂN BỐ

Phân bố

Chi Zingiber Boehmer ở châu Á có khoảng 45 loài, trong đó Việt Nam 11 loài. Gừng là loại cây gia vị cổ điển được trồng ở nhiều nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Đông Á, đến Đông Nam Á và Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản là những nước trồng nhiều gừng nhất thế giới.

*

Hình 4: Sự phân bố của cây Gừng

Ở Việt Nam, gừng được trồng từ thế kỷ thứ II trước Công nguyên. Hiện nay, cây được trồng ở khắp các địa phương, từ vùng núi cao đến đồng bằng và ngoài các hải đảo.

Gừng trồng trong nhân dân hiện nay cũng có nhiều giống. Loại “ gừng trâu” có thân to, củ to thường để làm mứt, có nhiều ở các vùng núi thấp, như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Tuyên Quang. Loại “gừng gié” có thân và củ đều nhỏ, nhưng rất thơm. Loài này cũng gồm 2 giống, giống củ nhỏ có màu hồng tía ở phần củ non, thường được đồng bào dân tộc trồng ở vùng cao, như ở các huyện phía bắc tỉnh Hà Giang, Sìn Hồ (Lai Châu), Sapa, Bát Xát (Lào Cai). Theo nhân dân địa phương, giống gừng này chịu được khí hậu lạnh kéo dài trong mùa đông. Cây trồng trên nương ít cần chăm sóc. Còn giống gừng củ nhỏ màu vàng ngà, được trồng phổ biến ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và ở phía nam. Như vậy, đặc điểm sinh thái riêng của các giống gừng tùy thuộc vào điều kiện vùng trồng. Đặc điểm chung nhất của chúng là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng (gừng trâu). Cây trồng thường có hoa ở năm thứ hai. Chưa thấy cây có quả và hạt. Gừng trồng sau một năm nếu không thu hoạch sẽ có hiện tượng tàn lụi (phần trên mặt đất) qua đông. Thời gian sinh trưởng mạnh của cây trùng với mùa hè – thu nóng và ẩm.

Thu hoạch, sơ chế

Trong y học cổ truyền phương Ðông, ở các nước Trung Quốc, Ấn Ðộ, Việt Nam v.v… các lương y đã dùng gừng làm thuốc từ hơn 2.000 năm. Ngày nay, nhiều kinh nghiệm chữa bệnh cổ truyền đã là những đề tài nghiên cứu có giá trị của y học hiện đại nhằm chứng minh cơ chế tác dụng đối với cơ thể của gừng vàng.

Sinh khương:Sinh khương còn gọi là gừng sống hoặc tiên khương là gừng tươi. Là thân rễ (còn gọi là củ) của cây gừng vàng được khai thác vào mùa hè, thu. Rửa sạch đất cát, để ráo nước rồi bảo quản nơi ẩm mát dùng làm thuốc quanh năm (Củ gừng tươi có sức sống kỳ lạ, nếu môi trường bảo quản không quá ẩm ướt hoặc quá khô sẽ tươi và giữ được tiềm năng tái sinh). Trong các bài thuốc Ðông y có gừng, sinh khương chiếm tới hơn 60%. Sinh khương vị cay, tính hơi ôn, vào 3 kinh: phế, tỳ, vị, có tác dụng tán hàn giải biểu, ấm dạ dày, cầm mửa, tiêu nước, dịu ho. Sinh khương được xếp vào nhóm thuốc phát tán phong hàn.

Xem thêm: Công Dụng Của Cây Nhân Trần Và Những Thận Trọng Cần Biết, Uống Hàng Ngày Có Tốt

Khương bì:Là vỏ gừng tươi, vị cay mát, có tác dụng hành thủy (dẫn nước) chủ trị các chứng phù.Ổi khương:Là gừng lùi – gừng sống vùi nhẹ lửa cho chín (hoặc nướng chín) có tác dụng ấm bụng, trừ hàn.Can khương:Là thân rễ phơi sấy khô của cây gừng vàng khai thác vào mùa đông. Can khương vị cay, tính ôn vào 4 kinh: tâm, phế, tỳ, vị. Có tác dụng ôn trung (ấm cơ thể) trừ hàn, hồi dương, thông mạch, dịu ho, cầm tả, cầm mửa, cầm máu. Can khương được xếp vào nhóm thuốc trừ hàn.Bào khương:Là can khương thái phiến, đem sao cho phồng rộp rồi phun nước cho nguội.Thán khương:Còn gọi là hắc khương hoặc gừng cháy. Là can khương thái phiến dày, sao cho cháy đen bên ngoài nhưng bên trong còn màu hồng sẫm (gọi là thiêu tồn tính). Có tác dụng cầm máu trong các bài thuốc trị băng huyết, thổ huyết, tiêu ra máu, tiểu ra máu, lỵ ra máu v.v…

THÀNHPHN HÓA HỌC:

Thân rễ phơi khô chứa: Tinh bột (>50%), protein (9%), lipid (6-8%) gồm triglyceride, acid phosphatidic, lecithin và các acid tự do; chất xơ (5.9%), tro(5.7%), canxi (0.1%), photpho (0.15%), sắt (0.011%), natri (0.03%), kali (1.4%), vitamin A (175 IU/100g), B1 (0.05mg/100g), vitamin B2 (0.13mg/100g), niacin (1.9mg/100g), vitamin C (12mg/100g), và khoảng 380kcal/100g.Gừng chứa 2-3% tinh dầu với thành phần chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: β-zingiberen (35%), ar-curcumenen (17%), β-farnesen (10%) và một lượng nhỏ các hợp chất alcol monoterpenic như geraniol, linalol, borneol.Nhựa dầu chứa 20-25% tinh dầu và 20-30% các chất cay. Thành phần chủ yếu của nhóm chất cay là zingeron, shogaol và zingerol, trong đó gingerol chiếm tỷ lệ cao nhất. Ngoài ra, trong tinh dầu Gừng còn chứa α-camphen, β-phelandren, eucalyptol và các gingerol. Cineol trong Gừng có tác dụng kích thích khi sử dụng tại chỗ và có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều vi khuẩn.

Xem thêm: 3 Nguyên Nhân Gây Nám Da Ở Nam Giới Có Bị Nám Da Không? 6 Nguyên Nhân Gây Nám Da Mặt Ở Nam Giới

*

Hình 5: Một số công thức đại diện

​TÁC DỤNGDƯỢC LÝ

Trên thực nghiệm, gừng có tác dụng làm giãn mạch và tăng tỷ lệ protein toàn phần và gamma globulin trên động vật thí nghiệm, đồng thời, có khả năng ức chế hoạt tính của histamin và acetylcholin thể hiện trên sự giảm mức độ co thắt cơ trơn ruột cô lập. Gừng có tác dụng làm giảm cơn dị ứng của chuột lang và sau đó 3 tuần được đưa kháng nguyên vào đường hô hấp trong buồng khí dung để gây phản ứng phản vệ.Cineol trong gừng có tác dụng kích thích khi sử dụng tại chỗ và có tác dụng diệt khuẩn trên nhiều vi khuẩn. Bột rễ gừng có tác dụng trị bệnh mắt hột tốt hơn nhiều loại thuốc khác. Nó làm giác mạc bị biến đổi trở nên trong, làm giảm sự thẩm thấu dưới niêm mạc và tăng hoạt tính sống của mô mắt.Cao cồn gừng có tác dụng kích thích các trung tâm vận mạch và hô hấp mèo gây mê, và kích thích tim. Trong gừng có yếu tố kháng histamin.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*