Cây Trường Sơn Group – Cơ Sở Sản Xuất Cây Giống Trường Sơn Group

Trường sơn Chữa sốt, sốt rét, sốt cách nhật, long đờm, thông tiểu tiện. Dùng sống hay gây nôn, do vậy dùng thuốc sắc từ lá, rễ đã tẩm rượu sao vàng, ngày 6-12g, hoặc dùng alcaloid toàn phần. Dùng riêng hoặc trong công thức phối hợp với một số cây khác.

*

Tin 247

*

THƯỜNG SƠN, thường sơn tía, ô rô lửa, thục tất, áp niệu thảo, sleng slảo mè (Tày)

*

*

*

Trường sơn

1. Tên gọi:

Tên khác / Other name: Tên tiếng Việt: Thường sơn; Khởi tía; tê quân; a luan trúm; nam thường sơn; bạch thường sơn; thường sơn tía; hoàng thường sơn; thục tất; áp niệu thảo; kê niệu thảoĐồng danh / Synonym name:

2. Họ thực vật / Plant family: Họ Hydrangeaceae

3. Mô tả / Description:

Cây nhỏ, cao 1-2m. Thân nhẵn, màu lục hoặc tím nhạt. Lá mọc đối, mép có răng cưa. Cuống lá và gân giữa có màu tím. Cụm hoa hình xim mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá. Hoa màu xanh lam hoặc hồng tím. Quả mọng màu lam hoặc tím. Hạt nhỏ, hình quả lê. Tránh nhầm với cây thường sơn trắng (Gendarussa ventricosa Nees) và thường sơn Nhật Bản (Phlogacanthus turgidus Nich.).

Đang xem: Cây trường sơn

4. Phân bố / Coverage:

Cây mọc hoang ở rừng núi, chỗ ẩm mát ven suối.Cây Thường Sơn mọc hoang rất nhiều ở các tỉnh miền rừng núi nước ta: Bắc Cạn, Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Tây… Cây thường mọc trong rừng, khe suối, bên lề đường.Ở Trung Quốc cũng có mọc hoang và được trồng để lấy rễ và lá dùng làm thuốc và xuất khẩu. Thu hái rễ vào tháng 8 – 10, đào về rửa sạch đất, cắt bỏ rễ con rồi phơi hay sấy khô. Có thể tẩm rượu 2 – 3 giờ, sao vàng hoặc chưng với rượu.

5. Tọa độ địa lý / Geographical coordinates:

6. Diện tích vùng phân bố / Coverage acreage :

7. Bộ phận dùng / Compositions used:

Rễ và lá. Rễ thu hái vào mùa đông, phơi hoặc sấy khô, khi dùng tẩm rượu, sao vàng. Lá hái vào xuân hạ, sao vàng hoặc đồ chín, phơi khô.Lá (Folium Dichroae) và Rễ (Radix Dichroae).Lá: hình mác, có cuống, mép có răng cưa.Rễ: hình trụ, cong queo, dài 10 – 30 cm, đường kính 1 – 2 cm. Mặt ngoài vàng nâu hoặc nâu xám có các vết dọc và vết của rễ con, có chỗ vỏ bị tróc ra, để lộ gỗ màu vàng nhạt, trên cùng còn vết gốc thân. Vị này rắn chắc như xương nên còn gọi là kê cốt thường sơn. Mặt cắt ngang có màu vàng nhạt, tia gỗ hình nan hoa màu trắng. Trong thân rễ có tủy màu trắng hoặc rỗng. Không mùi, vị hơi đắng.

8. Công dụng / Uses:

Chữa sốt, sốt rét, sốt cách nhật, long đờm, thông tiểu tiện. Dùng sống hay gây nôn, do vậy dùng thuốc sắc từ lá, rễ đã tẩm rượu sao vàng, ngày 6-12g, hoặc dùng alcaloid toàn phần. Dùng riêng hoặc trong công thức phối hợp với một số cây khác.

9. Thành phần hóa học / Chemical composition:

Rễ chứa các alcaloid: ỏ-dichroin, õ-dichroin, ó-dichroin và 4-ketodihydroquinazolin.

Trong lá có 0,2%, rễ có 0,1% alcaloid toàn phần

Tại các nước, thường sơn là đề tài được nghiên cứu kỹ về mặt hoá học cũng như dược lý từ năm 1946.

Trong các năm 1946-1948 các tác giả Triệu Thạch Dân, Chuyên Phú Vinh, Trương Xương Thiệu đã lấy được từ thường sơn các chất sau:

1. Dichroin- α C10H21(19)O3N3 độ chảy 136ºC2. Dichroin–β C16H21(19)O3N3 độ chảy 146ºC3. Dichroin–γ C16H21(19)O3N3 độ chảy 160ºC

Năm 1948, Kuehl đã chiết được từ Thường sơn một số alcaloid với những tính chất sau đây:

1. Dichroin A C16H 19O3N3 độ chảy 131-132ºC2. Dichroin B C16H 19O3N3 độ chảy 140-142ºC

Năm 1947 v à 1949, Koepfli đã chiết được các alcaloid đặt tên là:

1. Febrifugin C16H 19O3N3 độ chảy 139-140ºC2. Isofebrifugin C16H 19O3N3 độ chảy 128-130ºC

Gần đây người ta đã phát hiện Dichroin-α là Isofebrifugin; còn Dichroin–β là Febrifugin.

Xem thêm: Thiếu Máu Não Và Những Điều Cần Biết, Dấu Hiệu Sớm Thiếu Máu Não

Những alcaloid trong thường sơn đều là dẫn xuất của nhân quinazolin có 3 dạng α, β, γ. Nhiệt độ, chất kiềm hay acid hoặc dung môi đều có ảnh hưởng và thay đổi các alcaloid thành các dạng khác nhau. Trong 3 dạng đó thì dichroin γ có tác dụng chữa sốt rét mạnh nhất.

Khi đun nóng Dichroin-α biến thành dạng Dichroin–β; Dichroin-α và Dichroin–β là những chất không có tác dụng quang hoạt.

Ngoài ra còn có Dichroidin (C18H25O3N3), 4-quinazolin (C8H6ON2), umbelieron (= Dichroin A) và Dichroin B (có độ chảy 179-181 ºC).

10. Tác dụng dược lí / Pharmacological effects:

β-dichroin và nhất là γ-dichroin có tác dụng chữa sốt rét mạnh hơn quinin do đó được dùng để chữa sốt rét, sốt cách nhật. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc. Dùng sống hay gây nôn. Theo kinh nghiệm nhân dân, để bớt gây nôn cần tẩm rượu và sao. Người ta thường dùng thường sơn phối hợp với các vị khác để chữa sốt rét, sốt.

11. Đặc điểm nông học / Agronomic characteristics:

Tháng 5-6.

Thường sơn là một loài cây nhỡ, cao 1 – 2m, thân rỗng, dễ gãy, vỏ ngoài nhẵn, màu tím. Lá mọc đối, hình mác hai đầu nhọn, dài 13 – 20 cm, rộng 3,5 – 4 cm, mép có răng cưa, mặt trên xanh, mặt dưới và gân tím đỏ, không có lông hoặc hơi có lông. Hoa nhỏ màu xanh lam hay hồng, đài hợp, có 4 – 7 răng, nhiều nhị. Hoa mọc thành chùm nhiều hoa ở kẽ lá hay đầu cành. Quả mọng, khi chín có màu xanh lam, đường kính 5mm, một ngăn, chứa nhiều hạt nhỏ hình quả lê, có mạng ở mặt, dài không đầy 1mm.

Xem thêm: Cây Mèn Văn – Nhà Văn Tô Hoài

12. Kiểm nghiệm / Acceptance test:

13. Bào chế, chế biến / Dosage, processed:

Thu hoạch lá: Hái quanh năm nhưng tốt nhất vào lúc cây sắp và đang ra hoa. Hái về rửa sạch. Có thể dùng tươi hay phơi khô hoặc thái nhỏ, đem sao vàng hay chưng với rượu, hoặc tước bỏ hết sống lá rồi đồ chín phơi khô, khi dùng tẩm rượu một đêm rồi sao qua.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*