Hợp Hoan Thơm, Cây Hợp Hoan Thơm, Thành Phố Huế, Thừa Thiên

*

CƠ SỞ DỮ LIỆUTHỰC VẬT

1. Hướng dẫn tra cứu
2. Phân loại từ hình thái
3. Danh sách phân bố
4. Các dạng sống
5. Công dụng của thực vật

Lượt truy cập thứ 33,793,537Có 84 người đang truy cập

Đang xem: Cây hợp hoan thơm

Tương thích với

*
*
*
*
*

Xem thêm: Đái Tháo Đường Ở Người Trẻ Tuổi Có Bị Mắc Bệnh Đái Tháo Đường Không

*
*

Xem thêm: U Nang Buồng Trứng Có Nguy Hiểm Không Và Cách Điều Trị Bệnh Này Như Thế Nào?

LOÀITên Khoa học: Albizia odoratissima (L.f.) Benth.-Tên tiếng Anh: Tên tiếng Việt: Hợp hoan thơm; Xúa, Bản xe thơmTên khác: MÔ TẢ CHUNGCây gỗ cao đến 40m; nhánh tròn, hơi có lông mịn, rồi nhẵn. Lá có trục dài 7 – 20cm, có tuyến; lá lông chim 3 – 5 đôi, có trục 7 – 14cm mang 7 – 10, có thể đến 16 đôi lá chét thuôn hay hình trái xoan ngược, dài 1,1 – 3,5cm, rộng 0,6 – 1,2cm, không cân xứng, nhẵn hoặc có lông mềm cả hai mặt.Chùy hoa ở ngọn, phân nhánh chỉ một lần, dài 8 – 20cm; cuống xếp thành bó 2 – 4, mang các hoa đầu gồm 10 – 15 hoa, không cuống, có hai dạng. Hoa ở mép có đài hình ống với các răng nhọn; tràng hình phễu có thùy xoan – bầu dục, màu vàng; nhị cỡ 20 có chỉ nhị dính thành ống bằng ống tràng; bầu có lông mịn hay lông mềm. Quả dẹp, mỏng, dài 16 – 22cm, rộng 3,5cm, màu nâu sẫm; hạt 8 – 12, hình trái xoan, hẹp, dài đến 9mm.Loài của Ấn Độ, Xri Lanca, Nam Trung Quốc, Đông Nam Á nhiệt đới và cận nhiệt đới (trừ ở bán đảo Mã Lai). Ở Việt Nam có gặp từ Lai Châu, Phú Thọ, Ninh Bình đến Đắc Lắc, Lâm Đồng cho tới An Giang (Châu Đốc).Thường gặp trong rừng thường xanh núi cao, trong rừng khô rụng lá từ vùng thấp cho đến độ cao 1500m. Cây ưa sáng, chịu hạn kém. Tái sinh bằng hạt tốt nơi có tàn che thưa. Mùa hoa tháng 5 – 6, mùa quả chín tháng 12.Gỗ có lõi màu nâu, khá cứng, được dùng làm cột và xẻ ván; cũng có thể đóng đồ mộc cao cấp, dụng cụ thể thao, đồ mỹ nghệ, dùng cho xây dựng, đóng xe cộ, đồ dùng văn phòng… Vỏ cây chứa 12 – 15% tanin dùng làm nguyên liệu thuộc da. Ở Lào, người ta sắc vỏ và dùng đắp lên vết thương.Vỏ, lá, quả và vỏ rễ được sử dụng làm thuốc. Ở Vân Nam (Trung Quốc), vỏ rễ được dùng trị phong thấp viêm khớp xương, đòn ngã tổn thương, vết thương do dao chém xuất huyết và lở ngứa; còn quả được dùng làm thuốc thanh nhiệt lương huyết, nhuận tràng thông tiện. Ở Ấn Độ, vỏ dùng đắp ngoài có hiệu quả trong điều trị bệnh phong hủi và loét ngoan cố ; lá được dùng sắc với bơ lỏng để trị ho.ẢNH

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*