Điền Thanh Gai, Cây Điền Thanh Gai Giải Nhiệt, Điều Kinh, Mụn Nhọt

*

Ảnh minh họa cây điên điển của wikimedia.orgCanh chua điên điển cá linhĂn có một mình, thì chẳng biết ngon(Ca dao Nam Bộ)Điên Điển, một cây khá xa lạ với người dân thị thành, nhưng gần như dính liền với đời sống của ‘dân miệt vườn’ tại vùng châu thổ sông Cửu Long. Điên Điển đã gợi cảm hứng, làm chủ đề cho nhiều bài thơ, bản nhạc và cũng được dùng làm biểu tượng ‘quê hương’ cho những người ‘miền Tây’ từng sống nơi vùng sông rạch (tại Nam Việt Nam).Ca dao Nam Bộ có những câu đơn giản như:‘ Lục bình bông trắng, điên điển bông vàngĐiên Điển mọc ở đất làng, lục bình trôi nổi như chàng hát rong’Thành ngữ dân gian miền Nam có câu: ‘Rể điên điển’ để gọi những chàng con rể vô tích sự, không thương vợ và không làm gì giúp ích cho gia đình.Bài hát với âm điệu dân ca ‘Bông điên điển’ của Hà Phương đã được giới thưởng ngoạn miền Nam ưa thích vì đã nói lên được nỗi niềm nhung nhớ quê nhà của người xa xứ , nhất là người dân quê miền Tây. Lời bài hát rất gần với hình ảnh sông nước miền Tây:‘ Em đi lấy chồng về nơi xứ xaĐêm ru điệu hát câu hò trên môiMiền Tây xanh nươc mây trờiPhù sa nước nổi, người ơi đừng vềVới màu điên điển say mêVàng trong ánh mắt, vỗ về gót chânTrót thương tình nghĩa vợ chồngNên bông điên điển nở cho lòng vấn vương..’Và có những bài thơ tuy mộc mạc nhưng không thiếu chân tình:‘ Tôi biết có nổi canh điên điểnCá bông lau, đậu bắp, mỡ hànhEm ngậm cái màu bông chín nõnThẹn thùng không nói được..tiếng ‘Anh’(Bông Điên Điển- Bùi Chí Vịnh)Tên khoa học và các tên gọi khác:Sesbania sesban thuộc họ thực vật FabiaceaTại Việt Nam: miền Bắc gọi là Điền Thanh BụiTên Anh-Mỹ: Common sesban, Egyptian rattle-pod, Egyptian river hemp. Pháp: SesbaneTrung Hoa: Điền Tinh. Ấn Độ: điền tinh. Philippines: Sesban, katuray, katodai. Khmer: snao kook. Lào: sapao lom. Thái: sami, saphaolomẤn độ: Jain (Hindi)Đặc tính thực vật:Cây thuộc loại thân gỗ nhỏ, đa niên, khi trưởng thành có thể cao 2-3 m; tán mọc rộng từ 2-3m. Thân dòn và dễ gãy, cành không gai màu xanh hoặc đỏ có lõi xốp trắng. Hệ rễ phát triển mạnh nhiều cấp, ăn sâu khoảng 60-70 cm. Rễ con có thể có nốt sần khi cộng sinh với nấm rhizobium.Lá kép hình lông chim, có 10-20 đôi lá chét hình thuôn dài hẹp dài 6-25 cm, rộng 2-5 cm.Mặt dưới của phiến lá có đốm tím.Hoa mọc thành chùm ở nách lá và ở ngọn, cuống hoa dài 3-14 cm mang 5-13 hoa. Hoa to, dài 25 cm màu vàng, các cánh hoa có tai nhỏ nhọn.Quả đậu thẳng, thòng xuống dài 15-20 cm, rộng 0.4 cm, màu trắng hay tím nhạt, trong chứa 20-30 hột. Hạt hình cầu tròn dài, màu nâu bóng, đường kính khoảng 3 mm, có lông lởm chởm.Điên Điển được xem là có nguồn gốc tại Ai Cập (?). Cây mọc rất phổ biến tại Bắc và Đông Phi châu. Tại Á châu cây thường gặi tại lục địa Ấn Độ, Nam Trung Hoa, Đông Nam Á (Việt, Miên, Lào), Thái Lan, Mã Lai và cả tại Úc Châu (vùng Queensland)Chi thực vật Sesbania còn bao gồm cả một sô cây cũng được gọi là Điên Điển tại Việt Nam như:Sesbania bispinosa = Điên Điển gai, Điền thanh gaiS. cannabina= Điên Điển sợi, Điền thanh thân xanhS. paludosa= Điên Điển phao, điên điển hạt trònRiêng Sesbania grandifolia được gọi là so đũa (xin đọc bài riêng về cây này)Thành phần hòa học và dinh dưỡng:Thành phần hóa học:Hạt: chứa– Chất béo: 4.8 %– Albuminoids: 33.7 %– Carbohydrates: 18.2 %– Cellulose: 28.3 %– Tro: 4.2 %– Saponines loại stigmasta-galactopyranosidesLá chứa:– Saponins loại triterpenoid– Polyphenols– Sterols như sitosterol– Tannins– Flavonoids như kaempferol– Khoáng chất như Calcium (0.75 % lá khô), Phosphorus (0.37%), Sắt..Hoa cũng chứa các hợp chất polyphenol (phenolic tổng cộng 534 mg/100g) , flavonoid tổng cộng (135 mg/100g) , anthocyanins.Hạt chứa protein (70%) và dầu béoCác nghiên cứu khoa học:Có thể chia các nghiên cứu khoa học về Điên Điển thành 2 nhóm:Nhóm nghiên cứu về các hoạt chất để chữa bệnh, vàNhóm nghiên cứu về kỹ thuật trồng trọt và ứng dụng vào chăn nuôi cùng cải thiện đất trồng.Hoạt tính trị đau và chống sưng của điên điển:Nghiên cứu tại ĐH Dược Pravara Rural, Loni (Ấn Độ) ghi nhận các dịch chiết từ gỗ thân Điên Điển bằng petroleum ether, chloroform, ethylacetae, ethanol và nước có những hoạt tính chống đau khác nhau khi thử trên chuột dùng các test dĩa hư nóng và test co quắp thân chuột gây ra bởi acid acetic. Liều thử nghiệm đườc dùng là 50 mg và 100mg dịch chiết/ kg trọng lượng chuột, chich qua màng phuc toan. Các dịch chiết bằng petroleum ether, chloroforme và ethyl acetate có các hoạt tính chống đau rõ rệt. Hoạt tính này bị ngăn chặn bởi naloxone (mg/kg) nên có thễ được xem là liên hệ đến các thụ thể opoid (Indian Journal of Experi mental Biology Số 50/2012).Một nghiên cứu tại Trường Dược Khoa và Kỹ Thuật Quản Trị Maharastra (Ấn Độ) dùng dịch chiết từ lá bằng methanol và sau đó phân đoạn bằng butanol để trích saponins thô. Saponins thô được bào chế thành dạng gel thoa chứa 1 và 2 % (w/w) hoạt chất. Thử nghiệm được thực hiện trên chuột lang (Albino Wistar) bị gây sưng bằng chích carrageenan, dùng diclofenac gel và placebo làm đối chứng. Kết quả ghi nhận gel chứa saponins (2%) thô chiết từ lá điên điển có hoạt tính chống sưng rõ rệt: hoạt tính này xẩy ra ngay từ giai đoạn đầu của tiến trình sưng viêm (giai đoạn cơ thể tiết histamine và 5-hydroxytryptamine) và giai đoạn sau cùng (cơ thể phóng thích prostaglandins). (International Journal of Research and Pharmaceutical Sciences Số 3-2010)Tác dụng điều hòa sinh sản:Nghiên cứu về hoạt tính của bột hạt Điên Điển trên chuột lang mái (albino rat) thử nghiệm ghi nhận các liều 100, 250 và 400 mg/ kg/ ngày, dùng trong 30 ngày liên tục có thể ức chế hoạt động của buồng trứng, thay đổi cấu trúc của tử cung ngăn chặn sự bám của trứng vào vách tử cung đưa đến kiểm soát việc đậu thai 100 %. Liều 100 mg chỉ có tác dụng khoảng 20 %, các liều 250 mg và 400 mg có tác dụng 100 %, trứng thụ tinh không thể bám vào vách tử cung kể từ ngày thứ 10. (Journal of Research and Education in Indian Medicine Số 9-1990)Hoạt chất Oleanolic acid 3-B-D-glucoronide trich từ dịch chiết rễ Điên Điển có hoạt tính diệt tinh trùng (Contraception Số 10/ 2010)Hoạt tính làm hạ đường và hạ lipid trong máu:Nghiên cứu tại ĐH Sureh Gyan Vihar (Jaipur, Rajasthan-Ân độ) ghi nhận nước chiết từ lá thử trên chuột bị gây tiểu đường bằng streptozotocin (STZ), có tác dụng làm tăng nồng độ insulin trong huyết thanh, tăng nồng độ HDL giúp làm hạ đường trong máu, hạ HbA1C, hạ cholesterol tổng cộng và triglycerides. Thử nghiệm dùng glibenclamide làm chất đối chứng.

Đang xem: Cây Điền thanh gai

Xem thêm: Những Dấu Hiệu Cảnh Báo Bị Viêm Thận Sớm Giúp Bệnh Nhân Điều Trị Thành Công

Xem thêm: Những Yếu Tố Gây Tắc Mạch Máu Chi Dưới Mạn Tính, Bệnh Tắc Động Mạch Mạn Tính Chi Dưới

Mặt khác, nước chiết này (liều 500mg/kg/ ngày) còn có thêm hoạt tính bảo vệ thận giúp làm chậm các tiến trình hư hại thận gây ra do tiểu đường (Bangladesh Journal of Pharmacology Số 5-2010)Tác dụng chống oxy-hóa:Anthocyanins chiết từ hoa điên điển bằng methanol (hàm lượng 0.38 mg/100 g hoa) có hoạt tính thu nhặt các gốc tự do, các nhóm hydrogen peroxyde, ngăn chặn sự tạo malonaldehyde (MDA) từ linoleic acid (Journal of Pharmacy Research Số 5-2012)Hoạt tính kháng sinh:Dịch chiết trong thử nghiệm chống oxy-hóa trên cũng được thử nghiệm vế hoạt tính kháng sinh. Kết quả ghi nhận dịch chiết từ hoa bằng methanol chỉ có tác dụng kháng sinh trên các vi khuẩn Gram-dương như Staphylococcus aureus (1mg) và Staphylococ cus saprophyticus (12.5 mg)Điên Điển trong dược học dân gian:Dược học dân gian tại nhiều quốc gia Phi Châu và Á châu dùng Điên Điển để trị một số bệnh như:Lá, giã nát dùng đắp trên những vết thương có mủ, nhọt bọc để ‘hút’ mủ, và đắp các nơi sưng do phong thấp.Tại Decca (Bangladesh), nước cốt ép từ lá dùng trị giun sán.Hạt dùng trị tiêu chảy, rong kinh và sưng lá lách.Nước ép từ thân cây cũng dùng trị bệnh ngoài da.Rễ giã nát, đắp trị vết thương do bọ cạp chích.Tại Việt Nam: Đọt non điên điển được giả nát với muốt hột dùng đắp để trị bệnh ‘giời’ ăn. Hoa điên điển , bỏ cuống, hấp với đường phèn làm thuốc bổ tim.Dược học Ayurvedic (Ân Độ) dùng điên điển dể trị nhiều bệnh khác nhau: Hoa dùng trị xuất tinh sớm, quáng gà, ho cảm. Lá trị ho, lọc máu, nhức đầu, động kinh.Điên Điển trong Nông-lâm nghiệp:Điên Điển và những cây khác trong chi Sesbania (như So đũa) đã được nghiên cứu khá nhiều để dùng trong nông nghiệp. Ngoài vai trò giúp cải thiện đất, lá điên điển còn là một nguồn thực phẩm để nuôi dê, trừu.Điên điển mọc rất nhanh, trong điều kiện thích hợp cây có thể mọc cao 4-5 m chỉ trong vòng 6 tháng. Cây được trồng phổ biến tại Phi Châu và Á Châu (Ấn Độ), mọc dễ dàng nơi những vùng khí hậu ẩm, nhưng cũng chịu được khí hậu khô, nơi nước đọng, hay nơi nước lên xuống theo mùa (như vùng Đồng Tháp, Việt Nam). Trong mùa nước lụt, hệ thống rễ của cây thay đổi theo môi trường để thích nghi và phát triển. Một ưu điểm khác là cây chịu được cả nước lợ.Trong nông nghiệp, Điên Điển thường được trồng để lấy gỗ và lá.Gỗ:Gỗ thân điên điển (cây trồng tại Phi Châu có thể cao 8 m, đường kính đến 12 cm) thuộc loại sốp, mật độ thấp, tỷ trọng 0.4-0.5 khi chứa 12 % nước. Gỗ tuy không thuộc loại chất đốt tốt nhưng được ưa chuộng do mọc nhanh, khi đốt bắt lửa nhanh và cháy không có khói. Một cây điên điển tuổi 3 năm có thể cung cấp một nhiệt năng khí đốt 4350 kcal/ kg.Lá:Lá được dùng làm phân xanh và dùng làm chất độn trong thực phẩm gia súc (loài nhai lại như trâu, bò). Lá có thể thu hoạch bằng cách tỉa quanh năm. Tại Ấn Độ, sản lượng lá lên đến 4-12 tấn/ hecta cây trồng mỗi năm.Lượng protein thô trong lá Điên Điển lên đến 20-25 %. ‘Khả năng tiêu hóa’ của các chất khô (dry matter) khoảng 70-75 %. Các nghiên cứu về chăn nuôi cho rằng phương thức dùng lá điên điển tốt nhất về phương diện kinh tế và an toàn nhất là dùng trộn thêm vào rơm rạ làm thực phẩm cho thú vật loài nhai lại như trâu bò, nhưng không thể dùng lượng cao và trong thời gian lâu dài vì gây hậu quả không tốt trong việc sinh sản và sức khỏe của trâu bò (khi trộn vào thực phẩm với tỷ lệ 30%, gây trụy thai cho bò cái). Lá điên điển tuy không chứa các tannins cô đặc, nhưng chứa cavaninine và những hợp chất loại phenolics gồm cả những saponins có hoạt tính diệt tinh trùng và gây hoại huyết. Gà con bị chết khi cho ăn thực phẩm có trộn thêm lá điên điển (10 %).Giá trị dinh dưỡng của lá điên điển trong việc chăn nuôi trâu bò tùy thuộc vào tỷ lệ của các hợp chất phenolic và tỷ lệ này lại tùy thuộc vào các điều kiện thổ nhưỡng và nuôi trồng: Nếu hàm lượng chất phenolics cao, chúng sẽ kết nối với các protein và làm giảm lượng protein khả dụng, trái lại nếu hàm lượng phenolics thấp, giá trị dinh dưỡng sẽ tăng cao đồng thời không gây cảm giác ‘no hơi’ và đầy bụng cho trâu, bò.Riêng đối với dê, trừu: lá điên điển khi pha trộn thêm vào thực phẩm giúp làm tăng sản lượng sữa nơi dê, trừu cái đồng thời giúp trừu, dê con tăng trưởng nhanh hơn. Trong một thử nghiệm nuôi dê bằng lá điên điển (1998), dê con tăng trọng lượng khoảng 48g/ngày trong suốt 90 ngày, lượng Nitrogen thu nhận và giữ lại trong cơ thể dê, trừu cao, đồng thời Nitrogen thải theo phân tương đối thấp (International Livestock Center for Africa -Annual Report, 1988)Điên Điển đã được thử nghiệm để nuôi thỏ với những kết quả khá tốt: tỷ lệ pha trộn tốt nhất là 15 % lá khô trong thực phẩm cho thỏ, tỷ lệ này không gây những ảnh hưởng xấu trên sức khỏe của thỏ.Điên Điển dùng để cải thiện môi sinh:Điên Điển cũng như các cây khác trong họ thực vật Fabiacea, có khả năng thu Nitrogen từ không khí, tồn trữ trong cây, giúp cải thiện đất trồng trọt. Lá là một nguồn phân xanh hữu cơ rất tốt: cây có thể dùng để trợ giúp sự phát triển cho những cây trồng luân canh như bắp, đậu, bông gòn.Điên Điển cũng là một cây chắn gió rất tốt, cung cấp bóng mát và cây chống đỡ cho các loại cây trồng khác như tiêu (thay cho cọc cắm). Tại Trung Hoa, điên điển được trồng để lấn những khu vực nước lợ.Kết quả nghiên cứu trồng điên điển tại Việt Nam ghi nhận: sau một vụ trồng từ 4-5 tháng, một hecta có thể thu được khoảng 60-70 tấn chất hữu cơ, trong đó khoảng 100 kg Nitrogen thu được từ không khi.

*

Ảnh minh họa canh chua cá linh bông điên điển của cookpad.Điên Điển trong ẩm thực:Hoa điên điển được dùng chế biến thành nhiều món ăn ‘dân giã’ tại vùng nông thôn châu thổ sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Tác giả Mặc Cần Dung trong bài ‘Về bông điên điển và cài khía cạnh khác trong cuốn Hương Vị ngày xưa của tác giả Trần văn Chi’ tóm lược như sau:..’về các món ăn từ bông điên điển thì nhiều. Anh ăn sống, chấm nước cá kho hoặc mắm kho cũng được. Nó có mùi vị của giá sống, ăn giòn giòn mát miệng. Bông điên điển làm dưa ăn giống dưa giá. Bông điên điển nấu canh chua với cá lóc, cá rô càng ngon. Bông điên điển nấu canh thường với cá trê ăn giống canh cá trê nấu với bông so đũa. Rồi bông điên điển mà xào thịt heo ba rọi ngọt ơi là ngọt. Bông điên điển mà xào với tép, bỏ thêm chút thịt heo hoặc thịt gà làm nhưn bánh xèo, ăn hết xẩy..’Các tác giả chuyên viết về các ‘món ăn’ dân giã miền quê Nam bộ đều đồng ý là bông điên điển ‘ăn ngon nhất’ là khi ăn nhúng vào nồi canh hay ‘lẩu’ cá linh.Riêng tại Châu Đốc (An Giang), trong mùa nước nổi, bông điên điển được dùng làm ‘rau’ cho món bún nước lèo, bún mắm độc đáo của địa phương.Hạt điên điển có chứa những chất gây khó tiêu như cavananine nên cần ngâm nước 3 ngày trước khi đun nấu để làm thực phẩm.Tài liệu sử dụng:Philippine Medicinal Plants: SesbanSách Tra cứu tên Cây cỏ Việt Nam (Võ văn Chi)Tropical Forages: Sesbania sesbanILCA Annual Report, 1988.

TranVietHung, 27 tháng Sáu 2012#1

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*