Hậu Quả Khi Tăng Huyết Áp Do Căng Thẳng Có Nguy Hiểm Không? Các Yếu Tố Nguy Cơ Làm Tăng Huyết Áp

Thời sự Y học 360 Y học cổ truyền Giới tính Khỏe đẹp ++ Kinh tế xã hội
Y học cổ truyền Giới tính Camera bệnh viện Y học 360 Khỏe đẹp ++ Kinh tế xã hội Thời sự Quốc tế An toàn dùng thuốc Văn hóa – Giải trí Tra cứu sức khỏe

Stress hay trình trạng căng thẳng, lo âu quá mức có thể làm tăng huyết áp và gây nên các bệnh tim mạch.

Stress hay trình trạng căngthẳng, lo âu quá mức có thể làm tăng huyết áp và gây nên các bệnh tim mạch.

Đang xem: Hậu quả khi tăng huyết áp do căng thẳng

Sự đáp ứng của cơ thể đối vớitình trạng stress

Gần đây, tình trạng stress,hay tình trạng căng thẳng, lo âu quá mức, thường được đề cập đến rất nhiềutrong lĩnh vực sức khỏe. Nguyên nhân gây nên hiện tượng stress rất khác nhaunhưng phản ứng của cơ thể đối với tình trạng căng thẳng, lo âu quá mức lạigiống nhau và thường trải qua 3 giai đoạn.

*

Ảnh minh họa

Giai đoạn báo động:

Các hoạt động tâm lý hàngngày của con người thường được tăng cường, đặc biệt là qua quá trình tập trungchú ý, ghi nhớ và tư duy. Khi con người tiếp xúc với các yếu tố có thể gây nênstress, các chức năng của cơ thể, đặc biệt là hệ thần kinh giao cảm tăng cườnghoạt động làm tăng huyết áp, nhịp tim, nhịp thở và trương lực của cơ bắp…Giai đoạn này thường xảy ra nhanh từ vài phút đến vài giờ. Con người có thể bịđột tử trong giai đoạn này nếu gặp phải yếu tố stress xảy ra đột ngột, phức tạpvà quá sức chịu đựng. Nếu cố gắng vượt qua được, các phản ứng của cơ thể lúcban đầu sẽ chuyển sang giai đoạn thích nghi.

Giai đoạn thích nghi:

Đây là giai đoạn tiếp nối đốivới những người có sức đề kháng của cơ thể tốt, có thể làm chủ được tình huốngstress xảy ra. Nếu khả năng thích ứng của cao, các chức năng tâm sinh lý của cơthể sẽ được phục hồi. Ngược lại, nếu quá trình phục hồi không thể xảy ra thì cơthể sẽ chuyển sang giai đoạn kiệt quệ.

Giai đoạn kiệt quệ:

Phản ứng của cơ thể đối vớihiện tượng stress sẽ trở thành bệnh lý khi tình huống stress xảy ra bất ngờ, dữdội, vượt quá khả năng thích nghi của cơ thể. Trong giai đoạn này, các biến đổitâm sinh lý tập trung ở giai đoạn báo động sẽ xuất hiện trở lại.

Về mặt lâm sàng, phản ứng củacơ thể đối với hiện tượng stress sẽ làm cho người bệnh hưng phấn quá mức về cảtâm lý và thực thể với các biểu hiện như tăng trương lực cơ làm với nét mặtcăng thẳng, hành động và cử chỉ bị cứng nhắc, có cảm giác đau bên trong cơ thể.Ngoài ra, còn bị rối loạn thần kinh thực vật như nhịp tim nhanh, có cơn đauvùng trước tim, huyết áp tăng, khó thở, ngất xỉu, vã mồ hôi, nhức đầu, đau ởnhiều nơi, nhất là cơ bắp. Đồng thời có hiện tượng tăng cảm giác, nhất là thínhgiác nên những tiếng động và âm thanh bình thường cũng trở nên khó chịu, dễ nổicáu, tinh thần bất an, dễ bị kích động, rối loạn hành vi và nhân cách…

Mỗi người có một cách đáp ứnglại với những stress khác nhau. Sự đáp ứng sinh lý của mỗi người đối với stresstùy thuộc vào sự nhận biết về các kích thích có hại cho bản thân hay không nhậnbiết được. Chúng cũng phụ thuộc vào khả năng tiên đoán và khả năng kiểm soátcủa các tình huống có hại.

Xem thêm: Ung Thư Dạ Dày: Nguyên Nhân Gây Ung Thư Dạ Dày Và Những Điều Cần Biết

Sự nhận thức về khả năng tiênđoán và kiểm soát của con người đối với các tình huống xảy ra có ảnh hưởng lênsự tác động của stress. Các sự kiện xảy ra cũng không có tính chất gây nênstress giống nhau ở tất cả mọi người. Mức độ stress phụ thuộc vào ý nghĩa củasự kiện và những tiềm năng sẵn có cũng như như những kỹ năng và tiềm năng sẵncó của mỗi người trong việc đối phó với sự kiện. Khi một sự kiện được nhận địnhlà lành tính, những cảm xúc tích cực như vui vẻ, thương yêu, hạnh phúc, phấnkhởi, thanh thản sẽ diễn ra. Ngược lại, khi sự kiện được đánh giá là có tácdụng xấu, những cảm xúc tiêu cực như lo âu, sợ hãi, tội lỗi, thất vọng hoặctrầm uất sẽ xuất hiện. Những sự kiện và stress tích cực có tính chất tăng cườngsức khỏe. Trái lại, những sự kiện và stress tiêu cực xảy ra nhưng khả năng củacơ thể đối phó, điều chỉnh tình huống không hiệu quả và không đầy đủ sẽ là cácyếu tố nguy cơ dẫn đến tình trạng xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe, kể cả tính mạng.

Tình trạng stress gây nênbệnh lý tim mạch

Ngoài tác động làm tăng huyếtáp, hiện tượng stress có thể gây nên bệnh lý tim mạch như xơ vữa động mạch vàđột tử.

Sự căng thẳng tâm lý, lo âuquá mức có thể thúc đẩy quá trình làm xơ vữa động mạch vì chúng được các nhàkhoa học, y học cho là một yếu tố quan trọng gây nên bệnh lý xơ vữa động mạch.Đối với những người có sự hiểu biết về stress, có sức khỏe tốt và tâm lý vữngvàng sẽ dễ dàng vượt qua được những tác động ảnh hưởng của stress và có đượcmột cuộc sống vô tư, tươi vui, lành mạnh. Ngược lại những người có cơ thể ốmyếu, tinh thần suy sụp, không thể vượt qua và thích nghi nổi với những sự kiệntiêu cực và stress thì dễ dàng phát sinh bệnh tật, có thể ảnh hưởng lớn sứckhỏe và có thể dẫn đến đột tử khi gặp phải những cú sốc quá lớn xảy ra trongcuộc đời.

Có giả thuyết cho rằng khi bịcăng thẳng về tinh thần hay tâm lý cấp tính có thể gây rung tâm thất tim và bịđột tử do sự kích hoạt hệ thống bảo vệ dẫn đến hiện tượng giảm đột ngột trươnglực thần kinh phó giao cảm. Thông qua cơ chế thần kinh phó giao cảm trung ươngsẽ làm mất sự ổn định về điện học của tim được biểu hiện trên điện tâm đồ.Trong khi đó, trương lực thần kinh giao cảm ở tim tăng dẫn đến triệu chứng tăngnhịp tim, tăng sức co bóp của cơ tim, tăng huyết áp tâm thu, gây thiếu máu cơtim ở các bệnh nhân có xơ vữa động mạch vành dẫn đến nguy cơ bị rung tâm thấtvà đột tử.

Làm gì để giảm thiểu stress?

Qua cuộc sống đời thường,hàng ngày tất cả mọi người đều có thể bị stress tác động, ảnh hưởng nhiều hoặcít đến bản thân và chúng có thể gây nên tình trạng xấu cho sức khỏe, đặc biệtlà hiện tượng tăng huyết áp, mắc các bệnh tim mạch, thậm chí dẫn đến hậu quả bịđột tử. Vì vậy, cộng đồng cần phải nâng cao nhận thức, tạo cho bản thân mìnhcách sắp xếp, bố trí công việc và sinh hoạt một cách hợp lý để làm giảm thiểunhững stress có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Xem thêm: Ung Thư Vú Có Di Truyền Không, Bật Mí Bí Ẩn: Ung Thư Có Di Truyền Không

Biện pháp để làm giảm thiểustress bao gồm việc chọn lựa cho mình những loại thức ăn có lợi cho sức khỏe;vận động bằng luyện tập thể dục, thể thao phù hợp; học cách hít thở khoa học;bố trí việc nghỉ ngơi hợp lý; dành thời gian có ý nghĩa cho các ngày nghỉ cuốituần, nghỉ lễ, nghỉ tết; tránh những thói quen, tập quán xấu như uống rượu, biaquá nhiều; giảm bớt lượng muối trong thức ăn, bỏ hút thuốc lá… Một vấn đềcũng cần được ghi nhớ là nên bố trí công việc hàng ngày một cách khoa học, hợplý, vừa phải với sức lực của mình.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*