Điều Trị Đích Trong Ung Thư Vú Có Vai Trò Như Thế Nào, Vai Trò Của Điều Trị Đích Trong Ung Thư Vú

Một khi đã chẩn đoán ung thư vú, các phẫu thuật viên và bác sĩ điều trị ung thư sẽ hội chẩn về hướng điều trị. Điều trị ung thư vú phụ thuộc giai đoạn phát hiện, tuổi và tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, và thường phối hợp nhiều liệu pháp sau:

Phẫu thuậtHóa trịXạ trịLiệu pháp nội tiếtLiệu pháp nhắm trúng đích

*
*

Liệu pháp nội tiết

Một vài dạng ung thư vú phát triển dưới tác động của nội tiết tố. Những bệnh nhân khối u xét nghiệm dương tính với cả thụ thể estrogen (ER+) và thụ thể progesterone (PR+) có cơ hội đáp ứng liệu pháp nội tiết tốt hơn.

Đang xem: Điều trị đích trong ung thư vú có vai trò như thế nào

Mỗi tế bào trong những cơ phận có chứa rất nhiều những cấu trúc đạm chất (protein structures ) nhỏ li ti khác nhau được gọi là những “bộ thụ cảm” (receptors). Những bộ thụ cảm hoạt động như những “ổ khóa” của những tế bào và được vận hành bằng những “chìa khóa” là những kích thích tố. Khóa nào thì có chìa đó để phát động cái máy làm việc và vận chuyển nhà máy tế bào qua những tín hiệu phức tạp khác nhau.

Chất estrogen chỉ tác động vào bộ thụ cảm estrogen, và progesterone có tác dụng vào bộ thụ cảm của progesterone. Có khi những bộ thụ cảm này là cửa ngõ để các kích thích tố vào trong tế bào và ảnh hưởng trực tiếp tới những bộ máy của các tế bào này.

Khi các kích thích tố vào được các tế bào nhờ đi qua các bộ thụ cảm, bộ máy của tế bào sẽ bắt đầu làm việc. Các yếu tố di truyền (gene) thích hợp sẽ được kích thích để làm ra những hợp chất cần thiết cho sự tăng trưởng và sinh sản của các tế bào. Thí dụ như khi phụ nữ còn trong thời kỳ có thể sinh sản được, hàng tháng, estrogen và progesterone sẽ ảnh hưởng vào các tế bào vú cũng như tử cung qua các bộ thụ cảm.

Những tế bào của các bộ phận này sẽ trở nên lớn hơn và nhiều hơn để chuẩn bị cho việc thụ thai và cho con bú. 75% các ung thư vú cũng có thể vẫn giữ được khả năng chế tạo ra bộ thụ cảm estrogen và progesterone. Những ung thư vú này sẽ chịu ảnh hưởng tăng trưởng của estrogen và progesterone.

Có những loại thuốc có thể làm ngăn chặn những ảnh hưởng tăng trưởng này và được sử dụng để chữa ung thư vú. Bộ thu cảm của estrogen gọi là estrogen receptor (ER) và của progesterone gọi là progesterone receptor (PR).

Các bác sĩ sẽ xem xét độ dương tính của ER hay PR trong ung thư vú của bệnh nhân. Nếu có dương tính thì sẽ xem xét xem cao hay thấp như thế nào.

Dương tính cho ER hay PR càng cao bao nhiêu, cơ hội bệnh chịu thuốc kích thích tố càng cao bấy nhiêu. Nếu thử nghiệm cho thấy ung thư hoàn toàn âm tính cho ER và PR, tức là không có bộ thụ cảm cho estrogen và progesterone, phương pháp điều khiển kích thích tố sẽ không có hiệu quả gì hết cho người bệnh này.

Vì thế, có nhiều phụ nữ có ung thư vú được bác sĩ cho uống thuốc điều khiển kích thích tố nữ, mà nhiều phụ nữ khác lại không được cho uống. Nếu mắc bệnh ung thư vú, bệnh nhân nên tham khảo kỹ càng bác sĩ điều trị xem mình có thể được điều trị bằng cách điều khiển kích thích tố nữ hay không, vì đây là một cách chữa rất có hiệu quả cho những bệnh ung thư vú có ER hay PR.

Tùy theo trường hợp, các thứ thuốc hiện được dùng để chế ngự ảnh hưởng của kích thích tố trên ung thư vú gồm có Novaldex (tamoxifen) , Fareston (toremifene), Arimidex (anastrozole), Femara (letrozole), Aromasin (exemestane), Faslodex (fulvestrant), Megace (megestrol), Zoladex (goserelin) hay Lupron (leuprolide).

Những thuốc này có cách tác dụng khác nhau và được dùng cho những trường hợp khác nhau. Các bác sĩ chuyên môn về ung thư sẽ phải quyết định xem bệnh nhân có cần thuốc hay không, và nếu cần, thuốc nào thích hợp nhất cho bệnh nhân đó.

Liệu pháp nội tiết có thể gây một số tác dụng phụ, tùy từng loại thuốc và tùy vào bệnh nhân.

Liệu pháp nội tiết điều trị ung thư vú

Liệu pháp nhắm trúng đích

Đây là một dạng điều trị ung thư dùng các kháng thể hoặc các phân tử nhỏ gắn kết chuyên biệt với các vị trí cụ thể trên tế bào ung thư nhằm ngăn chặn khối u lớn lên và phân chia.

Mục đích điều trị nhằm giảm và thậm chí loại trừ các tế bào ung thư khỏi cơ thể trong khi giảm thiểu tác dụng phụ trên tế bào khỏe mạnh. Ngày càng có nhiều thuốc nhắm trúng đích được dùng để điều trị ung thư vú.

Những yếu tố di truyền hay kết quả của những yếu tố di truyền trong cơ thể như những yếu tố gây ra bệnh ung thư có thể trở thành mục tiêu trị liệu. Chẳng hạn như yếu tố di truyền Her 2 neu (hay erbB2) là yếu tố tăng trưởng các tế bào biểu bì, trong đó có các tế bào ung thư vú.

Ngoài yếu tố Her 2 neu, còn có yếu tố Her 1 hay erbB cũng có ảnh hưởng trên sự tăng trưởng biểu bì. Những tế bào ung thư vú có sự phát triển bất thường của Her 2 neu là những loại ung thư vú nguy hiểm nhất.

Thuốc Herceptin (trastuzumab) là một loại thuốc mới đặc biệt được dùng cho những bệnh nhân bị loại ung thư vú có sự phát triển bất thường của yếu tố Her 2 neu ( khoảng 25% tất cả bệnh nhân ung thư vú) .

Thuốc Herceptin là một chất kháng thể chống lại những sản phẩm của Her 2 neu, và tiêu diệt những tế bào ung thư có yếu tố Her 2 neu. Khi sử dụng thuốc này, cơ hội sống còn của bệnh nhân sẽ tăng lên, nhất là khi được sử dụng vào trường hợp ung thư đã vào hạch nách hay đã lây lan đến các cơ phận khác.

Herceptin là thuốc được dùng theo đường truyền vào tĩnh mạch. Một trong những phản ứng phụ của thuốc là có thể làm cơ tim yếu đi; do đó, chức năng tim của bệnh nhân phải được theo dõi kỹ càng trong khi trị liệu với thuốc này.

Thuốc Tykerb (lapatinib) vừa mới được nghiên cứu và cho thấy có kết quả tốt cho bệnh nhân mắc bệnh ung thư vú lọai có yếu tố Her 2 neu nhưng khi dùng thuốc Herceptin lại không có hiệu quả hay đã mất hiệu quả sau một thời gian dùng thuốc.

Thuốc Tykerb chống lại cả hai yếu tố Her 2 và Her 1. Đây là loại thuốc uống, tiện lợi hơn cho bệnh nhân, và có ít phản ứng phụ về tim hơn. Phản ứng phụ thường gặp là tiêu chảy và bị các thay đổi về da.

Một số liệu pháp nhắm đích khác bao gồm: alpelisib, pertuzumab, neratinib, ertumaxomab.

Tôi nên hỏi bác sĩ điều gì khi lựa chọn liệu pháp điều trị ung thư vú?

Theo lời khuyên của Hội ung thư Hoa Kỳ, một số câu hỏi sau bệnh nhân có thể thảo luận thêm với bác sĩ trước khi bắt đầu một liệu pháp điều trị:

Bác sĩ thấy tôi nên theo phương pháp trị liệu nào?Mục tiêu của phương pháp trị liệu này là gì? Bác sĩ thấy có thể trị lành ung thư không?Phương pháp trị liệu này có bao gồm phẫu thuật không? Nếu có thì ai sẽ thực hiện phẫu thuật?Phẫu thuật sẽ diễn ra như thế nào? Lợi ích và nguy cơ?Tôi có phải trải qua những liệu pháp điều trị khác không?Mục tiêu của những điều trị khác (nếu có) là gì?Có thể bị những phản ứng phụ nào từ những liệu pháp chữa trị này?Còn về những phương pháp điều trị khác – chẳng hạn như sinh tố hay chế độ ăn uống đặc biệt mà bạn bè nói cho tôi nghe thì sao? Làm sao biết có an toàn không?Tôi phải chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng cho việc điều trị?Tôi cần làm gì để quá trình điều trị đạt hiệu quả cao hơn?Các bước tiếp theo sau điều trị là gì?Nỗ lực của các Trung tâm điều trị ung thư trong cải thiện tỷ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư vú

Ung thư là một trận chiến, không chỉ của riêng bệnh nhân, mà là của các bác sĩ điều trị.

Xem thêm: Dấu Hiệu Bệnh Viêm Gan – Đâu Là Triệu Chứng Bệnh Viêm Gan

Hiện nay, với sự phát triển của các trung tâm ung thư, bên cạnh đầu tư trang thiết bị tân tiến để nâng cao chất lượng từng biện pháp điều trị, việc đào tạo, phát triển và tổ chức đội ngũ nhân viên y tế hợp lý cũng đóng vai trò quan trọng giúp cải thiện hiệu quả và tăng sự yên tâm của bệnh nhân.

Kết cục sống còn của bệnh nhân là thước đo chính để xác định hiệu quả chung của các trung tâm điều trị bệnh nhân ung thư.

Phối hợp nhiều chuyên khoa – một hướng tiếp cận mới trong điều trị ung thư

Điều trị ung thư rất khác biệt theo từng giai đoạn, và cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều chyên khoa như bác sĩ phẫu thuật, bác sĩ xạ trị, điều dưỡng, chuyên viên tư vấn tâm lý và nhiều chuyên khoa khác.

Do vậy, một hướng điều trị hiện đang được tập trung phát triển tại các trung tâm điều trị ung thư là hướng tiếp cận đa khoa (phối hợp nhiều chuyên khoa) (multidisciplinary team). Tức là nhiều bác sĩ và nhân viên y tế trong nhiều chuyên khoa, nhiều lĩnh vực sẽ phối hợp với nhau để đưa ra kế hoạch điều trị cụ thể cho bệnh nhân, cũng như đem lại cho bệnh nhân sự điều trị, nâng đỡ về thể chất và tinh thần tối ưu nhất.

Nghiên cứu cho thấy hướng tiếp cận phối hợp nhiều chuyên khoa này giúp cải thiện đáng kể tỷ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư vú.

Một nghiên cứu năm 2012 cho thấy việc tiếp cận phối hợp nhiều chuyên khoa giúp giảm đến 18% tỷ lệ tử vong do ung thư vú sau 5 năm.

Trung Tâm Điều Trị Ung Thư Vú Chuyên Sâu

Tại một số trung tâm như bệnh viện Subang Jaya (Malaysia) đã phát triển nhóm điều trị phối hợp nhiều chuyên khoa trong điều trị ung thư, lấy bệnh nhân làm trung tâm bao gồm:

Nội khoa ung thưPhẫu thuật ung bướuXạ trị ung bướuBác sĩ ghép tế bào gốcChẩn đoán hình ảnh học ung thưY học hạt nhânUng bướu học can thiệp

Bên cạnh đó, các thành viên khác trong nhóm điều trị và hỗ trợ bệnh nhân ung thư bao gồm

Điều dưỡng giáo dục bệnh nhân về ung thưChuyên viên tư vấnBác sĩ tâm lýBác sĩ chuyên ngành giảm đauNghiên cứu đánh giá về một trung tâm điều trị ung thư vú tại Malaysia

Mục tiêu của điều trị nhằm đem lại một điều trị an toàn, hiệu quả và lấy bệnh nhân làm trung tâm. Do đó, việc đánh giá hoạt động điều trị của trung tâm giúp đánh giá xem đã đạt những tiêu chuẩn này hay chưa.

Hiện nay chỉ có một số trung tâm điều trị ung thư áp dụng việc đánh giá thường quy về hiệu quả điều trị.

Tại Malaysia, một trong những trung tâm điều trị thực hiện quá trình đánh giá thường quy là Bệnh viện Subang Jaya Medical Centre (SJMC). Năm 2008-2012, bệnh viện tiến hành một nghiên cứu để đánh giá về tỷ lệ sống còn của bệnh nhân ung thư điều trị tại Trung tâm Phẫu thuật Xạ trị (Radiosurgery Centre – CRC).

Nghiên cứu tiến hành trên 675 bệnh nhân ung thư vú điều trị tại trung tâm trong giai đoạn 2008-2012. Các bệnh nhân này bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau; từ Giai đoạn I đến Giai đoạn IV.

Nghiên cứu cũng bao gồm các thông tin như nhân chủng học bệnh nhân (tuổi, giới và nơi cư trú), loại điều trị (như hóa trị, xạ trị và/hoặc phẫu thuật) và kết cục điều trị (tức là bệnh nhân còn sống hoặc tử vong trong giai đoạn nghiên cứu).

Kết quả được xác định bởi các phương pháp thống kê giúp xác định bệnh nhân sống đến 5 năm sau điều trị. Nghiên cứu này giúp so sánh tỷ lệ sống còn giữa các bệnh nhân điều trị ung thư vú tại SJMC và tỷ lệ sống còn từ Tiêu chuẩn Sống còn Ung thư Quốc tế (International Cancer Survival Standard).

Tỷ lệ sống còn 5 năm đối với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn I là 98%, và với giai đoạn IV là 36%. Với giai đoạn II, tỷ lệ này đến 95%.

Kết quả chung qua các năm của bệnh viện khá đồng nhất là 90%, gần với ngưỡng mốc của quốc tế là 95%. Điều này nghĩa là khi so sánh hiệu quả về tỷ lệ sống còn của bệnh nhân điều trị ung thư vú tại CRC so với các trung tâm điều trị ung thư khác trên toàn cầu, SJMC nằm trong những trung tâm đạt chuẩn cao theo đánh giá của các tổ chức quốc tế.

Kết quả nghiên cứu cho thấy CRC tương đương hoặc tốt hơn so với các trung tâm ung thư đã thiết lập trên thế giới, và cao hơn so với con số trung bình trong điều tra các cơ sở điều trị đăng ký tại Mỹ, Úc, Anh và Nhật Bản

Điều Trị Ung Thư Vú Ở Đâu Tốt Nhất?

Cũng như các ung thư khác, điều trị ung thư vú đòi hỏi sự phối hợp đa chuyên ngành từ nhiều chuyên gia khác nhau. Do vậy, hướng tiếp cận Phối hợp nhiều chuyên khoa và lấy bệnh nhân làm trung tâm ngày càng được chú trọng.

Tại Đông Nam Á, bệnh viện Subang Jaya Medical Centre là một trong những trung tâm phát triển mô hình này, đồng thời cũng là một trong số những bệnh viện đầu tiên áp dụng đánh giá kết quả hoạt động điều trị hằng năm.

Kết quả nghiên cứu năm 2008-2012 cho thấy tỷ lệ sống còn của bệnh nhân điều trị tại Subang Jaya khá đồng nhất trong 5 năm là 90%cao hơn so với số liệu trung bình từ điều tra ở các nước Mỹ, Úc, Anh và Nhật Bản.

Tìm kiếm một bệnh viện hoặc trung tâm điều trị ung thư vú nhiều kinh nghiệm là một trong các yếu tố then chốt để giải quyết vấn đề cho bệnh nhân ung thư vú.

Ngoài kinh nghiệm nhiều năm chuyên sâu trong điều trị ung thư vú, hiệu quả điều trị cao, chi phí điều trị tiết kiệm hơn nhiều so với các nước khác trong khu vực là một trong các điểm làm cho trung tâm điều trị ung thư vú tại bệnh viện Subang Jaya Medical Centre trở thành điểm đến tin cậy của nhiều bệnh nhân Malaysia, Indonesia cũng như Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. American Cancer Society. Breast Cancer (in vietnamese). Available at: https://www.cancer.org/content/dam/cancer-org/cancer-control/vi/booklets-flyers/if-you-have-breast-cancer-vietnamese.pdf. Accessed on 25 April 2019.

2. Ramsay Sime Darby. Breast surgery. Available at: https://www.ramsaysimedarby.com/services/breast-surgery/. Accessed on 25 April 2019.

Xem thêm: Cách Điều Trị Bệnh Trĩ Bằng Thuốc Ngâm Trĩ Tại Nhà Hiệu Quả Nhất Mà Đơn Giản

3. Ramsay Sime Darby. Brease Cancer. Available at: https://www.ramsaysimedarby.com/hospitals/sjmc/breast-cancer/. Accessed on 25 April 2019.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*