Đặc Điểm Lâm Sàng Của Bệnh Suy Tĩnh Mạch Chi Dưới Mãn Tính, Cập Nhật Điều Trị Suy Tĩnh Mạch Chi Dưới

Bệnh suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là một nguyên nhân gây tử vong mà ít người biết đến. Khi biến chứng nặng, máu ứ trong lòng tĩnh mạch hình thành các cục máu đông, trôi về tim gây thuyên tắc động mạch phổi có thể gây tử vong

Đang xem: đặc điểm lâm sàng của bệnh suy tĩnh mạch chi dưới

Suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới là tình trạng tĩnh mạch chi dưới bao gồm cả hệ thống tĩnh mạch sâu, nằm trong các khối cơ và hệ thống tĩnh mạch nông nằm ngay dưới da bị giãn, hệ thống van tĩnh mạch bị giảm chức năng. Tình trạng này dẫn đến hiện tượng rối loạn về huyết động học làm cho máu ứ trệ trong lòng tĩnh mạch và trở về tim khó khăn.

Máu ứ nhiều trong tĩnh mạch làm chân bị phù, hình thành các cục máu đông trong lòng tĩnh mạch và nếu điều trị không tốt các cục máu đông có thể trôi theo dòng máu về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi gây nên một biến chứng có thể dẫn đến cái chết cho bệnh nhân. Tăng áp lực trong lòng các tĩnh mạch ở chân bị giãn nặng có thể gây chảy máu khó điều trị gây tử vong đã được ghi nhận.

Trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh 10- 61% (tỷ lệ nam /nữ từ 1/2 đến 1/4). Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi. Tần suất gặp suy tĩnh mạch gấp 10 lần bệnh động mạch chi dưới. Chi phí điều trị suy tĩnh mạch mạn tính tại Hoa kỳ từ 150 triệu USD đến 1 tỷ USD/năm.

Ở Việt nam, theo Nguyễn Thị Hải Yến và Phạm Nguyên Sơn (2015), ở bệnh nhân trên 50 tuổi, tỷ lệ suy tĩnh mạch nông chi dưới là 44,1% và tỷ lệ có dòng trào ngược trong lòng tĩnh mạch là 34,8%. Hiểu biết về suy tĩnh mạch còn rất hạn chế: 92,5% bệnh nhân không biết về bệnh lý tĩnh mạch trước nghiên cứu và 91,8% bệnh nhân suy tĩnh mạch không được điều trị.
 
Điều này nói lên thực trạng về bệnh lý tĩnh mạch ở nước ta, trong đó chủ yếu là bệnh nhân ít quan tâm, ngại đi khám, thầy thuốc coi nhẹ và bỏ sót các triệu chứng. Chỉ có 8,2% bệnh nhân suy tĩnh mạch được điều trị và đa số là sử dụng các loại thuốc chữa triệu chứng như Aspirin, lợi tiểu hoặc các loại thuốc Đông y.

Nguyên nhân suy tĩnh mạch mạn tính chi dưới được chia làm 4 nhóm: bẩm sinh, tiên phát, thứ phát và không tìm được nguyên nhân.
 
Giãn tĩnh mạch bẩm sinh, nguyên nhân do bất thường của thành tĩnh mạch. Ngày nay tìm thấy có yếu tố gen.

Nhóm giãn tĩnh mạch tiên phát hay còn gọi là giãn tĩnh mạch vô căn: Trong nhóm này, ban đầu các tĩnh mạch bị giãn và dài ra sau đó các van tĩnh mạch mất dần chức năng.
 
Nhóm giãn tĩnh mạch thứ phát, thường do viêm tĩnh mạch: Ở nhóm này các van tĩnh mạch bị mất chức năng trước, sau đó các tĩnh mạch mới bị giãn và dài ra. Bao gồm: Bệnh lý hậu huyết khối. Dị sản tĩnh mạch: thiếu hụt hoăc thiểu sản van tĩnh mạch bẩm sinh có kèm theo hoặc không kèm theo rò động tĩnh mạch. Và bị chèn ép về huyết động như có thai, thể thao hoặc chèn bệnh lý như khối u.
Một số trường hợp suy tĩnh mạch mạn tính không tìm thấy nguyên nhân

Biến chứng của giãn tĩnh mạch:
Trước tiên là các biến chứng về rối loạn huyết động học: Cẳng chân bệnh nhân bị sưng to, có triệu chứng đau buốt mặt sau cẳng chân, chuột rút về đêm.

Nặng hơn, bệnh nhân có thể bị viêm tắc tĩnh mạch, chân nóng, sưng đỏ, các tĩnh mạch nông nổi rõ và viêm cứng.

Giai đoạn cuối cùng có thể diễn tiến đến tình trạng giãn to toàn bộ hệ tĩnh mạch, các tĩnh mạch giãn rất lớn, ứ trệ tuần hoàn và rối loạn dinh dưỡng của da chân phía dưới gây viêm loét, nhiễm trùng rất khó điều trị.

Một biến chứng rất nặng nề và cũng thường hay gặp của suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính là việc hình thành cục máu đông trong lòng tĩnh mạch. Cục thuyên tắc có thể tách rời khỏi thành tĩnh mạch, đi về tim và gây thuyên tắc động mạch phổi, một biến chứng rất nặng có thể đưa đến tử vong nếu không cấp cứu kịp thời.

Chảy máu do giãn tĩnh mạch ở chân có thể dẫn tới tử vong. Chảy máu không phải là vấn đề ít gặp, nhưng thường được điều trị không đúng cách.

Xem thêm: Ung Thư Dạ Dày Nên Kiêng Ăn Gì Khi Bị Ung Thư Dạ Dày, Nên Và Không Nên Ăn Gì?

Xem thêm: Các phương pháp điều trị bệnh trĩ nội , trĩ ngoại

Các yếu tố nguy cơ:
Trên thực tế không phải người nào cũng có khả năng bị bệnh này, chỉ có một số người thuộc nhóm có nguy cơ cao là hay bị. Di truyền là mẫu số chung cho những bệnh nhân này, di truyền dễ bị mắc bệnh hơn những người khác, nguyên nhân do những thay đổi về enzyme trong mô liên kết.

Nữ thường bị nhiều hơn nam do ảnh hưởng của nội tiết tố nữ, thai nghén lên thành tĩnh mạch, do phải đứng lâu trong một số ngành nghề đặc biệt như bán hàng, thợ dệt, do khối lượng cơ thấp hoặc dùng giày không thích hợp.

Tăng trọng quá mức cũng là một yếu tố nguy cơ vì lực tác động từ phía trước để hút máu về bị giảm và các dòng trào ngược ly tâm phát sinh do gia tăng áp lực từ ổ bụng.

Thuốc ngừa thai do sử dụng nội tiết tố nên cũng là một yếu tố nguy cơ như thai nghén.

Phẫu thuật có thể gây ra biến chứng huyết khối tĩnh mạch và viêm tĩnh mạch nhất là những phẫu thuật vùng tiểu khung như phẫu thuật trong sản khoa và niệu khoa các thủ thuật khác như bó bột, bất động lâu trong gãy xương… Tuy nhiên gần đây tầm quan trọng của yếu tố nguy cơ này đã giảm bớt.
Những bệnh ăn theo chế độ ăn kiêng nhiều chất bột, ít chất xơ hay bị táo bón cũng rất dễ bị giãn tĩnh mạch.

Làm thế nào để chẩn đoán?
Việc xác định chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàng bao gồm nhìn thấy những đoạn tĩnh mạch bị giãn, ngoằn ngoèo, da đổi màu, rối loạn dinh dưỡng, loét và sự xuất hiện của các u máu.

Sờ để biết được độ cứng của phần mềm, đặc biệt là vùng trước xương chày, so sánh cả hai bên. Ngoài ra có thể sờ thấy cả một đoạn tĩnh mạch cứng, phù nề, các cục thuyên tắc và xác định nhiệt độ của da.

Hiện nay lâm sàng của suy tĩnh mạch mạn tính được chia làm 6 giai đoạn tuỳ thuộc vào mức độ tổn thương da theo phân loại CEAP
Phân loại CEAP (1995): được áp dụng rộng rãi trên thế giới, hiện nay vẫn đang áp dụng trên lâm sàng.
– C: Lâm sàng.
– E: Nguyên nhân bệnh sinh.
– A: Giải phẫu học.
– P: Sinh bệnh học.
Phân loại CEAP nâng cao (2004)
Mô tả rõ về bệnh hơn so với phân loại CEAP kinh điển (định khu giải phẫu, bổ xung n: không xác định được bệnh sinh hay nguyên nhân…).
Chủ yếu được áp dụng trong các nghiên cứu lâm sàng.
Chia làm các mức độ từ C0 đến C6.
+ C0: Không có biểu hiện bệnh lý tĩnh mạch có thể quan sát hoặc sờ thấy.
+ C1: Giãn mao tĩnh mạch mạng nhện hoặc dạng lưới với đường kính<3mm. + C2: Dãn tĩnh mạch với đường kính>3mm.
+ C3: Phù chi dưới, chưa có biến đổi trên da.
+ C4: Biến đổi trên da do bệnh lý tĩnh mạch :
C4a: Rối loạn sắc tố và/hoặc chàm tĩnh mạch
C4b: Xơ mỡ da và/hoặc teo trắng của Milian.
+ C5: Những biến đổi trên da như được nêu ở trên kèm với loét đã lành sẹo.
+ C6: Những biến đổi trên da như được nêu ở trên kèm với loét đang tiến triển.

Hãy bình luận đầu tiên

Để lại một phản hồi

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiện thị công khai.


*